Đó là khu “bán trú dân nuôi” ở bản Nó Mé, xã Ka Lăng, huyện Mường Tè (tỉnh Lai Châu). Chính trong những chiếc lán nhỏ ấy chứa đựng niềm tin, sự hi vọng của người dân Hà Nhì ở xã Ka Lăng cho một ngày mai tươi sáng.
Vì sao gọi nơi đây là khu “bán trú dân nuôi”? Câu trả lời thật dễ: Bởi khu này do nhà trường huy động các gia đình học sinh tạo nên. Nhà do cha mẹ các em học sinh tự làm. Gạo cũng được các em mang từ gia đình tới. Vì thế, nó được gọi là khu “bán trú dân nuôi”.
Lớp học tại bản Nó Mé, xã Ka Lăng.
Những chiếc lán nằm san sát nhau tạo thành một dãy dài, xung quanh được che bằng bạt và cành cây rừng. Trong mỗi chiếc lán ấy thường có từ hai đến ba em học sinh ở cùng nhau.
Các em là anh em ruột, người cùng bản hay cùng lớp để thuận tiện cho việc học tập và sinh hoạt. Nhà ở xa, đường toàn là đèo cao, suối sâu, nên để được đến lớp, các em “đành” ở lại trong khu bán trú ấy.
Lớp học tại bản Nó Mé, xã Ka Lăng.
Nằm ngay đầu dãy là “nhà” của hai chị em Lỳ Lò Xu. Tuy tôi chẳng phải là người cao lớn, nhưng muốn vào được trong “nhà” của em thì chỉ có cách duy nhất là cúi người hết cỡ. Em Xu cho biết:
- Đơn giản thế thôi, nhưng đầu năm học này, cả gia đình em gồm 4 người cũng phải mấy ngày liền đi rừng chặt cây, mua bạt mới dựng được chiếc lán nhỏ cho hai chị em ở. Bố mẹ em làm nương vất vả lắm nhưng vẫn cố gắng cho hai chị em em theo học. Khoảng hai tuần bố hoặc mẹ đi bộ mang gạo, thức ăn cho chúng em. Mơ ước sau này của em là trở thành cô giáo để về dạy chữ cho học sinh ở bản.
Trong khi Lỳ Lò Xu đang nấu cơm thì cô em gái tranh thủ chút ánh sáng sắp tàn của buổi chiều để ôn lại bài. Cái lán rộng khoảng 5m2 của hai chị trống hơ, trống hoác, chốc chốc tôi nhận thấy cô bé rùng mình vì lạnh.
Cách đó không xa, chiếc lán của em Chang Lé Phạ nhà ở bản Tà Phù, xã Ka Lăng, huyện Mường Tè cũng ẩm thấp không kém. Tuy vậy, sách vở được em sắp đặt khá ngăn nắp.
Góc lán, vài chiếc hòm gỗ đựng đồ dùng cá nhân chồng lên nhau. Một chiếc giường được ghép từ những khúc cây vừa là chỗ học, vừa là chỗ ngủ của Phạ. Khó khăn tới mức manh chiếu rải trên “chiếc giường” đó cũng rách bươm.
Chiếc đèn dầu nằm im lìm một chỗ, chắc chỉ để dành cho những lúc Phạ học bài. Khi chúng tôi đến, Phạ đang cắm cúi nhặt rau chuẩn bị bữa ăn chiều. Phạ là con thứ hai trong gia đình có ba chị em.
Mỗi tuần Phạ về nhà một lần. Khi lên em mang theo 3kg gạo nương, ít mỡ, dầu thắp, vài bó rau để sinh hoạt trong cả tuần.
- Bữa ăn có thịt không? - Tôi hỏi.
- Không ạ. Thỉnh thoảng nhà nào mổ lợn, may ra hôm đó chúng em mới có được “bữa tươi”. Có khi cả năm mới được một bữa như thế – Phạ lí nhí trả lời.
Mặc dù để có thể theo học được, Phạ phải vượt qua rất nhiều khó khăn, nhưng em nói với tôi rất quả quyết:
- Dù đi xa, chịu khổ đến mấy, em cũng vẫn muốn được học thật nhiều.
- Thế học xong em muốn được làm gì? - Tôi hỏi.
- Trở thành thầy giáo.
Thầy giáo Lù Phạ Xè, Phó hiệu trưởng Trường THCS xã Ka Lăng cho chúng tôi biết:
- Trường hiện có hơn 200 em học sinh người dân tộc Hà Nhì. Trong đó, 170 em ở trong khu “bán trú dân nuôi”. Các em học sinh ở đây đói nghèo như nhau, thiếu thốn như nhau. Nhưng điều chúng tôi mừng nhất là không em nào bỏ học.
Những chiếc lán này dù không đủ chống chọi lại giá rét khi đông về, nhưng cũng che được ít nhiều mưa nắng. Nếu về nhà, các em không có điều kiện học tập như được ở “nội trú”, bởi phải lo phụ giúp cha mẹ lên nương, làm rẫy.
Rồi những hôm mưa rừng, nước nguồn đổ xuống, các em cũng không thể đến lớp thường xuyên được. Ở đây, dù sao các em cũng được học tập trung, sinh hoạt tập trung, được giao lưu, gặp gỡ bạn bè và thầy giáo, cô giáo. Đó là những cơ hội tốt để các em cùng giúp nhau tiến bộ.
Buổi chiều nơi biên giới thật yên bình. Hành trình đi tìm con chữ của các em học sinh người dân tộc Hà Nhì không đơn thuần là sự nhọc nhằn, vất vả.
Sự thương yêu, đùm bọc, sẻ chia của thầy giáo, cô giáo đã gieo vào trái tim các em niềm tin mãnh liệt trên hành trình đi tìm tri thức. Ánh mắt và nụ cười rạng rỡ, hồn nhiên của các em lúc chia tay chúng tôi đã nói lên điều đó.