Gần 25 năm làm lãnh đạo ở một xã miền núi có 100% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, ông như cây đại thụ giữa buôn làng, âm thầm toả bóng, âm thầm chở che để niềm tin của nhân dân được đền đáp.
Bí thư Đảng uỷ kiêm Chủ tịch UBND xã là mô hình kiêm nhiệm đang còn rất mới. Đến độ chỉ là đang trong thời kỳ thí điểm. Ấy vậy mà ở huyện miền núi Tân Kỳ, nơi cách xa trung tâm huyện lỵ những ba chục cây số, với một xã nghèo 100% đồng bào dân tộc, một người là “con của bản” đã nhận cái nhiệm vụ lớn lao ấy. Ông nhận.
Ông Nguyễn Văn Tân
Vui vẻ nhưng cũng không ít rối bời như chính cách đây gần 25 năm ông đã ngồi vào ghế “thủ lĩnh” của xã nghèo miền sơn cước này. Ông là Nguyễn Văn Tân, người dân tộc Thổ - Bí thư Đảng uỷ kiêm Chủ tịch UBND xã Tân Hợp.
Một tấm lòng…
Lên với Tân Hợp những ngày này ít ai nghĩ rằng, nơi đây xưa kia vẫn được mệnh danh là “vùng đất chết”, là chốn sơn cùng thuỷ tận. Đồng mía bạt ngàn xanh, nương ngô mướt màu trong ban mai nắng sớm, những mái ngói đỏ quạch, cả những bức tường còn thơm mùi vôi vữa, lẫn đâu đó là tiếng trẻ học bài vọng vang đến từng vách núi… Tất cả những vũ điệu ấy của cuộc sống hữu hảo đang rộn vang trên từng nóc nhà, từng bản làng.
Đón tôi ngay đầu dốc Vình bằng chiếc xe máy lấm lem bùn đất, ông Nguyễn Văn Tân vội vã phân trần: “Đường từ đây vào trung tâm xã còn xấu lắm nên đích thân ta phải ra đón…”. Như người bạn tâm giao lâu ngày hạnh ngộ, ông đã “khoe” với tôi, xã vừa trích ngân sách vừa vận động bà con mỗi hộ góp thêm 10.000 đồng để “gia công” lại đường.
Bởi vậy nên bây giờ đi mới “sướng cái bụng” như thế này. Rồi, trong niềm vui bất chợt, ông bảo vừa vận động được bà con đồng ý để sáp nhập trường cấp 1 và cấp 2. Tiếc cơ ngơi bề thế của trường cũ nên ông đã xin được cải tạo lại để làm trụ sở UBND xã chứ đập đi thì phí lắm.
Cứ như thế, câu chuyện xoay quanh việc làm thế nào mà ngót phần tư thế kỷ, một tay ông đã làm thay đổi cả vùng đất cằn vốn bị che khuất bởi “ma làng” và đói khổ này cứ như suối mát từ thượng nguồn, ào ạt tuôn chảy xuống hạ lưu tìm về với biển mặn.
Cầm tinh con chuột (1960), ông Nguyễn Văn Tân lớn lên trong một gia đình dân tộc Thổ ở xóm Tân Lập, xã Tân Hợp. Tuổi thơ của ông cũng bàng bạc như bao đứa trẻ khác ở mảnh đất “chó ăn đá, gà ăn sỏi” này. Nhưng năm tháng tuy khổ cực mà ngọt ngào ấy qua đi rất nhanh, cuộc đời rẽ ngang khi cha mất, ông bỏ học. 20 tuổi lấy vợ, 23 tuổi ông được đề đạt ở vị trí cao nhất trong bộ máy cấp xã.
Vậy mà cũng đã gần 25 năm rồi kể từ ngày ông ngồi vào cái ghế “quyền lực”. “Nghĩ lại ngày đó cũng thật liều, trình độ không có, kinh nghiệm lại càng không. Thương dân mà không đành lòng từ chối.
Nghĩ mình làm dâu trăm họ, có thể giúp được bà con thay đổi cuộc sống dù chỉ một phần nhỏ cũng là hạnh phúc rồi”, ông Hải nhớ lại. Nhường ấy thời gian làm Chủ tịch xã rồi Bí thư Đảng uỷ và bây giờ là “hai mang”, ông lãnh đạo không phải bằng quyền lực mà bằng chính tấm lòng bởi một đứa con của bản làng.
Tuyên chiến với “hủ tục”
Là người con của bản nên ông rất tường tận những tập quán, thói quen và cả hủ tục lạc hậu của dân bản như ma chay, lễ lạt phải kéo dài cả chục ngày trời. Cưới hỏi thì nhất thiết phải đưa dâu vào lúc 1 giờ sáng. Con trai muốn lấy vợ phải ở rể…
Chẳng đâu xa, ngày ông cưới vợ cũng phải ở rể ngót hai năm trời. Thấu hiểu điều đó nên việc đầu tiên khi ông lên làm chủ tịch xã (1986) là tuyên chiến với các “hủ tục” và giúp dân phát triển kinh tế.
“Khó lắm chứ, đồng bào dân tộc thiểu số mà, làm cái gì cũng phải vận động. Mình phải tiên phong trước, vận động mọi người trong gia đình rồi đến họ hàng thân thích sau đó đồng bào mới tin tưởng để làm theo”.
Ông không biết đôi chân mình đã vượt qua bao nhiêu núi, lội mấy chục con suối và đến mấy trăm nhà. Chỉ nhớ rằng, nhà nào bản nào ông cũng đã đặt chân đến. Cũng bởi vậy, đến nay ông không những nhớ từng nhà mà còn đọc từng tên các thành viên trong mỗi gia đình.
Cuộc đời ông là thế, chẳng màng chút danh lợi, cũng không cậy quyền thế để hách dịch, ông luôn tâm niệm mình sinh ra là để lo cho dân, trả nghĩa với bản làng đã ưu ái sinh ra bản thân trong cuộc đời trần ai này. Đến độ, nhiều bữa đi vận động gặp gia đình đang dùng bữa, ông liền sà vào ngồi chung chiếu, không nề hà, câu nệ.
Mưa dầm thấm lâu, dần dà người dân Tân Hợp đã nghe ra và tin cán bộ Tân, từ bỏ các hủ tục lạc hậu, chung tay xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư.
Để giúp dân phát triển kinh tế, thay đổi lối sống phát rừng làm rẫy, dựa vào phương thức chọc lỗ tra hạt mỗi năm một mùa vụ như trước đây, ông lại lọc cọc trên chiếc xe đạp Phượng Hoàng, lặn lội sang xã bạn Tân Xuân, Nghĩa Thái, vào cả Phòng Nông nghiệp huyện cách 30 cây số để nhờ tư vấn. Học hỏi được chút kiến thức, ông vội vã xắn quần lội xuống khe hướng dẫn bà con ngăn nước trồng lúa. Những thửa ruộng bậc thang đầu tiên đã ra đời ở Tân Hợp từ đó.
Có ruộng, có đất nhưng lại thiếu kỹ thuật canh tác nên năng suất không cao, có năm mất trắng. Không để niềm tin của người dân bị bội phản, ông chủ tịch trẻ lại lụi cụi đắp đập, be bờ dẫn nước vào tưới tiêu, mạnh dạn đưa giống mới năng suất cao vào gieo trồng.
Cứ như thế, bà con dần có cái ăn, nạn đói giáp hạt cũng bị đẩy lùi. Chỉ từ cây lúa độc canh ban đầu, đến nay Tân Hợp đã trở thành một trong những “vựa” mía của huyện Tân Kỳ. Rồi ngô, lạc, sắn cao sản và mới đây nhất là cây cao su được đưa lên vùng đất này đã nhanh chóng phủ màu no ấm.
Ông sáng kiến
Chỉ cho tôi trạm y tế xã tương đối khang trang nằm ngay đầu đường vào trung tâm xã, ông Tân kể: “Nguyên cái trạm xá này cũng có một “sự tích” rất đáng nhớ gắn với sự ra đời của nó. Ấy là vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước, khi cả xã chịu một lúc vừa nạn đói vừa dịch bệnh sốt rét. Xuống tỉnh xin được một tấn rưỡi gạo để về cứu đói.
Có gạo nhưng lại thiếu chỗ điều trị, ông vét sạch gia sản và trên danh nghĩa cá nhân, “vay tạm” cả ngân sách xã được hơn 7 triệu đồng dựng một trạm xá.
Bí thư Huyện uỷ Tân Kỳ lúc ấy là Võ Văn Ngãi nghe tin, về thăm thấy cảm động quá cho 3 tấn xi măng để xây. Tấm lòng đó của ông Tân và cả ông Bí thư Huyện uỷ đến nay bà con Tân Hợp vẫn khắc cốt ghi tâm. Nhớ mãi.
Hủ tục được xóa bỏ, cái đói cũng không còn là nỗi lo nhưng trình độ dân trí của bà con vẫn còn rất thấp.
Thương các cháu học hết cấp một phải nghỉ học vì không có trường cấp 2, ông đã đứng ra mở lớp “bổ túc” cho các cháu lớp 6 và lớp 7, xã trích ngân sách để mời các thầy về dạy học. Lại nữa, thấy các cháu được học cao, mà đội ngũ cán bộ lãnh đạo lại không “đi học” thì quá thiệt thòi, ông lại đứng ra xin huyện cho mời các thầy giáo ở Trung tâm GDTX về dạy bổ túc cấp 3 cho gần 50 cán bộ xã, xóm. “Học sinh” bỏ ra mỗi người 10 nghìn tự nấu cơm nuôi các thầy.
Thêm một lần nữa việc làm của Tân Hợp làm cho lãnh đạo huyện vô cùng cảm kích, cho hẳn 50 triệu đồng để trả lương cho thầy. Năm 2004, xã Tân Hợp hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học. Tin vui ấy bay về phấp phới khắp bản trên làng dưới.